SIDEBAR
»
S
I
D
E
B
A
R
«
CON NGƯỜI QUA TÁC PHẦM BÀ LÃO IDECGHIN… (KẾT)
Dec 31st, 2009 by tranhanam

0
Truyền thuyết về chàng Đankô là bài ca tuyệt đẹp về sức mạnh cá»§a con người vá»›i ánh lá»­a rá»±c cháy cá»§a lý tưởng sống. Đây là con người có tính cách tương phản vá»›i Larra – kẻ từ bỏ đồng loại cá»§a mình. Bóng đêm, đầm lầy và khu rừng tượng trưng cho những thế lá»±c Ä‘en tối muốn ngăn cản sức vươn tá»›i cá»§a con người. Những thế lá»±c ấy đã làm cho những người trước kia vốn hùng dÅ©ng, quả cảm đã phải chùn bước. Trong hoàn cảnh hết sức Ä‘iển hình ấy, bản chất cá»§a má»—i con người được bá»™c lá»™ rõ ràng. Đứng trước ranh giá»›i giữa sá»± sống và cái chết, kẻ mất tinh thần đã “kinh hoảng trước cái chết, không ai còn sợ cuá»™c đời nô lệ nữa…”. Giữa lúc ấy “Đankô xuất hiện”. Cái quyết tâm cá»§a chàng trai là ý chí sắt đá cá»§a con người trước mọi trở lá»±c nguy nan, là ý chí cá»§a những người dám hành động. Chỉ có những người dám hành động thì má»›i có thể biến ước mÆ¡ thành hiện thá»±c “NghÄ© ngợi không thể hất bỏ được tảng đá trên đường ta Ä‘i. Kẻ nào không mó tay vào việc gì thì chẳng làm nên công chuyện gì. Cứ nghÄ© làm chi cho hao tâm tổn sức? Hãy đứng lên, chúng ta sẽ Ä‘i vào rừng và xuyên qua rừng, bởi vì rừng cÅ©ng có chá»— kết thúc, mọi cái trên đời đều có chá»— kết thúc! Ta Ä‘i Ä‘i! Nào! Tiến bước!…”. Sức mạnh cá»§a Đankô là sức mạnh cá»§a người quả cảm, sức mạnh cá»§a con người tá»± tin vào bản thân mình. Đankô, chàng trai dÅ©ng mãnh dẫn đầu Ä‘oàn người đã phải đối chọi vá»›i cái hèn nhát cá»§a con người khi họ gặp trở lá»±c má»›i. Mâu thuẫn xung đột lên đến đỉnh Ä‘iểm khi Ä‘oàn người dừng lại và kết án Đankô. Những lời lẽ cá»§a chàng trai má»™t lần nữa chứng minh cho giá trị chân chính cá»§a con người: “Tôi có gan dẫn đường và tôi dẫn các người Ä‘i! Còn các người, các người đã làm gì để tá»± giúp mình? Các người chỉ cắm cổ Ä‘i và không biết giữ sức để Ä‘i được lâu dài hÆ¡n! Các người chỉ mải miết như đàn cừu!”. Giá trị chân chính cá»§a con người là Ä‘i và biết hướng phải Ä‘i tá»›i. . Chàng Đankô cÅ©ng bị chính đồng loại cá»§a mình đẩy vào ranh giá»›i cá»§a sá»± sống và cái chết. Trong con người anh giờ cháy lên hai ngọn lá»­a: ngọn lá»­a uất hận trước sá»± u tối cá»§a con người và ngọn lá»­a cá»§a tình yêu thương đồng loại. Cái cao thượng cá»§a Đankô Ä‘ang đối chọi vá»›i cái thấp hèn cá»§a bầy người u mê. Má»™t Ä‘iều tất yếu sẽ xảy đến: Đankô phải chết, và Con – Người – viết – hoa ấy đã chọn cái chết cho bản thân, cái chết cho đúng vá»›i bản chất con người cao thượng cá»§a anh. Hành động anh hùng “xé toang lồng ngá»±c” đã làm nên Ä‘iều thần kỳ; Đankô đã nâng những tâm hồn đồng loại lên. “Trái tim cháy sáng rá»±c như mặt trời, và cả khu rừng im lặng, sáng lên dưới ngọn Ä‘uốc cá»§a lòng thương yêu vÄ© đại đối vá»›i mọi người”. Mặt trời chỉ có má»™t, Đankô chỉ có má»™t trái tim, cuá»™c sống chỉ có má»™t chân lý vÄ©nh cá»­u; ánh sáng cháy rá»±c cá»§a trái tim Đankô chính là ánh sáng cá»§a chân lý. Con Người ấy trong những giờ phút phải giáp mặt giữa ranh giá»›i cá»§a sá»± sống và cái chết, sá»± căm thù và lòng thương yêu, cá nhân và tập thể, đã chọn con đường hành động theo đúng nghÄ©a con người, đánh thức những phần tốt đẹp trong bản chất con người. Hình tượng Đankô đầy tính lãng mạn mà M.Gorki đã xây dá»±ng nên tượng trưng cho hình mẫu lý tưởng cá»§a con người. Qua hình tượng Đankô, tác giả muốn nhắn nhá»§ con người: hãy vươn lên đến những chân trời tốt đẹp hÆ¡n.
* *
*
Dựng lên ba mẩu chuyện, ái hư chen cái thực, cái thực hoà vào cái hư, bút pháp lãng mạn của M.Gorki đã đem đến cho chúng ta một tác phẩm tuyệt vời. Với truyện ngắn “Bà lão Idecghin”, M.Gorki đã gửi gắm đến chúng ta một nhận thức đẹp về con người, thúc đẩy chúng ta vươn lên đến giới hạn của con người, CON-NGƯỜI-VIẾT-HOA; đó là giá trị nhân văn trong tác phẩm này của ông cũng như bao tuyệt tác khác, ông đã từng cất lên những lời ca bất tuyệt về con người: “Con Người, tiếng ấy tự hào biết bao”
7.11.1987
TRẦN HÀ NAM
(Văn 2B khoá 9 )
(Đánh lại vi tính xong ngày 31.12.2009)
CON NGƯỜI QUA TÁC PHẦM BÀ LÃO IDECGHIN… (tiếp)
Dec 30th, 2009 by tranhanam

0

Trong câu chuyện thứ hai, ta bắt gặp chính mảng hiện thực của cuộc đời hiện ra trần trụi, khoẻ khoắn tràn trề sức sống. Mỗi tính cách trong câu chuyện này hiện lên chân thật rõ ràng như trong đời thường ta vẫn hay gặp. Con người trong câu chuyện thứ nhất thuộc về huyền thoại, còn con người ở đây hiện lên với niềm vui và nỗi buồn, sự bình thản và hoảng hốt, sự bình tĩnh và hèn nhát, sự cao thượng và đê tiện, con người có tình yêu và sự đau khổ, con người đi qua những cột mốc thời gian. Trong câu chuyện thứ hai này, ta có thể thấy một anh thuyền chài “chỉ biết ca hát và hôn hít”, một anh chàng Guxun với “một cái đầu rực lửa”, lão Thổ Nhĩ Kỳ “nói năng như một đấng chúa tể”, một thằng bé mười sáu tuổi với tình yêu “rực cháy trong người”, một gã Ba Lan ti tiện và giả dối v.v…. Tất cả những con người ấy được lột tả tính cách qua nhân vật trung tâm là chính bà lão Idecghin.

Bà lão được tác giả quan sát rất kỹ càng: “Tôi nhìn mặt bà lão. Cặp mắt Ä‘en cá»§a bà vẫn mờ đục, hồi ức không làm cho cặp mắt ấy linh hoạt lên. Ánh trăng rọi sáng cặp môi khô nứt nẻ cá»§a bà, rọi sáng cái cằm nhọn vêu vao dính những sợi tóc bạc và cái mÅ©i nhăn nheo khoằm xuống như mỏ cú. Hai má trÅ©ng xuống thành hai hõm Ä‘en: từ dưới mảnh giẻ đỏ quấn quanh đầu, má»™t má»› tóc màu muối tiêu xoã ra, bê nết vào bên hõm má. Da mặt, da cổ và da tay chằng chịt nếp nhăn nom như những vết khía và má»—i khi bà lão cá»­ động tôi cứ tưởng như làn da khô héo ấy sẽ rách tÆ¡i tả bong xuống từng mảnh và trước mắt tôi sẽ hiện lên bá»™ xương trần trụi vá»›i hai hốc mắt Ä‘en ngòm đờ đẫn.”. Con người ấy trong quá khứ lại là má»™t phụ nữ tràn đầy sức sống và khát vọng tình yêu. Tình yêu cá»§a người phụ nữ này thật kỳ lạ, rất mãnh liệt và rất tha thiết. Cô gái Idecghin sẵn sàng dâng hiến tấm thân trinh bạch cho người mình yêu, nhưng lập tức có thể dứt bỏ ngay tình yêu ấy vì đó là tình yêu “yêu chỉ để mà yêu”, và cuá»™c đời đâu chỉ có “ca hát và hôn hít”. Tình yêu cá»§a cô vá»›i anh chàng Guxun cÅ©ng dữ dá»™i không kém. Cả anh chàng thuyền chài Prút và anh chàng Guxun, hai người yêu cá»§a cô cùng giáp mặt vá»›i cái chết má»™t lần. Trước cái chết, anh chàng Guxun dÅ©ng cảm “phì phèo tẩu thuốc” và anh thuyền chài “tái mét mặt khóc lóc” là hai hình ảnh tương phản cá»§a hai tính cách ngang tàng và hèn nhát cá»§a con người. Người phụ nữ Idecghin này còn yêu cả má»™t gã Thổ NhÄ© Kỳ “giàu có và trịnh trọng”. Nhưng suốt má»™t tuần sống trong “khuê phòng” vá»›i “tám ả đàn bà” “suốt ngày chỉ biết có ăn, ngá»§ và tán chuyện lăng nhăng”, con người có tình yêu nồng nàn ấy đã nhận ra tình yêu không thể làm nô lệ cho sá»± giàu có, và đã ra Ä‘i vá»›i tình yêu má»›i, tình yêu như sao băng vá»›i má»™t thằng bé còn quá non ná»›t để hiểu thá»±c tế phÅ© phàng cá»§a cuá»™c đời. Người phụ nữ Idecghin này luôn trăn trở để tìm ra đâu là tình yêu chân chính, đâu là giá trị thá»±c cá»§a cuá»™c sống. Thá»±c tế cuá»™c sống đã xô đẩy làm phiêu dạt số phận người phụ nữ ấy nhưng không dập tắt nổi ngọn lá»­a sống, ngọn lá»­a tình yêu trong tim bà. Tình yêu cá»§a người phụ nữ Idecghin tìm đến vá»›i má»™t Ä‘iều gì phi thường, vá»›i những con người có thể lập nên kỳ công. Lời phát biểu cá»§a bà lão cÅ©ng chính là quan niệm cá»§a tác giả về con người” “Anh biết không, trong cuá»™c sống bao giờ cÅ©ng có chá»— để làm nên sá»± nghiệp phi thường, còn những kẻ không tìm được cÆ¡ há»™i để lập nên kỳ công thì chỉ là những kẻ lười biếng hoặc hèn nhát hoặc là không hiểu cuá»™c sống, vì nếu hiểu cuá»™c sống thì má»—i người đều muốn lưu lại bóng dáng mình sau khi mình không còn trên đời này nữa. Và như thế thì cuá»™c sống sẽ không ngốn ngấu con người mà không để lại vết tích gì”. Quan niệm như vậy nhưng bà lão ấy đã có má»™t thời bị ngọn lá»­a tình yêu làm cho mù quáng khi yêu má»™t kẻ đểu cáng không xứng đáng là con người. Người phụ nữ ấy đã nếm trải sá»± Ä‘au khổ khi bị ruồng rẫy. Nhưng tình yêu chân chính trong con người bà đã giúp bà nhận ra những lá»›p son giả dối ở gã ti tiện người Ba Lan ấy. Và mặc dù đã Ä‘em mạng sống cá»§a mình mạo hiểm cứu hắn, người đàn bà Idecghin ấy đã dứt bỏ má»™t cách thanh thản để ra Ä‘i. Hành trình dài suốt quãng đời son trẻ đã được đền bù xứng đáng, người phụ nữ ấy cuối cùng cÅ©ng tìm ra hạnh phúc cho bản thân. Câu chuyện thứ hai cá»§a bà lão Idecghin có thể nói là má»™t bài học về tình yêu, về cuá»™c đời và con người. Con người, trong cuá»™c đời, luôn luôn phải gìn giữ ngọn lá»­a sống và hãy luôn luôn sáng suốt để có thể tá»± tìm cho mình những giá trị chân chính cá»§a cuá»™c đời. Bà lão Idecghin vẫn kể câu chuyện ấy cho bao lá»›p trẻ vì “họ cần nghe những chuyện đó”. Nhận thức cá»§a bà về cuá»™c đời thật đẹp và đáng để chúng ta suy nghÄ©: “Đã có thời ta cÅ©ng như thế…Có Ä‘iều là thời ấy, cái thời xa xưa cá»§a ta, con người có nhiều sức lá»±c và lá»­a sống hÆ¡n, vì thế sống vui hÆ¡n và thú hÆ¡n… Đúng thế…”. Trong cÆ¡ thể già nua héo hắt ấy vẫn âm ỉ má»™t ngọn lá»­a sống. Ngọn lá»­a sống ấy, bà cụ đã ban phát cho biết bao người và tiếp tục thổi bùng những khát vọng vươn tá»›i tương lai, qua câu chuyện thứ ba, câu chuyện về chàng trai dÅ©ng cảm Đankô, về Con – Người – viết – hoa.

Phân tích BÀ LÃO IDECGHIN
Dec 30th, 2009 by tranhanam

0
Bài viết này đã hoàn thành khi tôi còn là sinh viên năm thứ 2 khoá 9 khoa Ngữ Văn Đại học sư phạm Quy Nhơn (1987). Lâu ngày tìm lại được bản viết tay, vi tính hoá để lưu giữ kỷ niệm một thời!
CON NGƯỜI QUA TÁC PHẦM BÀ LÃO IDECGHIN CỦA MACXIM GORKI

Bà lão Idecghin của Macxim Gorki là một trong những sáng tácở giai đoạn đầu của ông, vào cuối thế kỷ XIX. Truyện ngắn này mang tính dân gian cao và là một trong những sáng tác điển hình của ông. Thông qua tác phẩm, M.Gorki đem đến cho chúng ta những hình ảnh đầy chất lãng mạn và hiện thực về con người. Hay nói đúng hơn, đó là những bức tranh về tính cách. Và tác giả đã ca ngợi nhiệt thành những giá trị chân chính của con người.

* *

*

Không khí trong những câu chuyện của bà lão Idecghin là không khí của những câu chuyện cổ tích dân gian Nga xưa “Không khí nhiễm đầy mùi hơi biển gay gắt và khí bốc nồng đậm của đất thấm đẫm nước mưa từ lúc gần tối…Giữa các mảng mây những mảnh trời xanh ngời lên thứ ánh sáng dịua dàng, lấm tấm những vì sao óng ánh như vụn vàng…âm thanh và mùi vị, mây và người đều đẹp và buồn lạ lùng”. Bà lão Idecghin, người kể chuyện, cũng được phác ra như một con người của thế giới cổ xưa: “Thời gian đã làm cho lưng bà lão cong gập xuống, cặp mắt xưa kia đen láy giờ đây đã mờ đục và lúc nào cũng nhoà lệ. giọng nói khô khan của bà lão nghe đến kỳ lạ như tiếng xương va nhau lục cục…”. Bao nhiêu câu chuyện ẩn chứa trong thân hình còm cõi già nua ấy, khi được kể ra bỗng có sức hút quyến rũ lạ thường.

* *

*

Câu chuyện thứ nhất cá»§a bà lão là má»™t truyền thuyết về đứa con trai cá»§a đại bàng, Larra, má»™t “chàng trai đẹp và khoẻ”, đôi mắt “lạnh lùng và kiêu hãnh như mắt chúa các loài chim”. Vẻ đẹp cá»§a Larra là má»™t vẻ đẹp cá»§a sá»± hoang dã, cá»§a hai mươi năm không tiếp xúc vá»›i xã há»™i loài người. tính cách cá»§a gã trai trẻ ấy được khắc họa trên hai mối quan hệ tiêu biểu: quan hệ vá»›i những người cao tuổi và quan hệ vá»›i phụ nữ. Chỉ có thông qua hai mối quan hệ trên má»›i có thể hiểu đầy đủ bản chất cá»§a Larra bởi vì suốt hai mươi năm sống tách biệt xã há»™i, người duy nhất gã tiếp xúc là mẹ gã, cô gái trẻ đẹp ngày xưa bị đại bàng bắt. Bà mẹ cá»§a Larra há»™i đủ hai yếu tố cá»§a những người mà Larra tiếp xúc. vá»›i các bậc trưởng lão, gã con trai đại bàng đối xá»­ “như những người bằng vai” vá»›i thái độ và cá»­ chỉ ngạo mạn há»—n xược. Vá»›i phái đẹp, gã đã hành động má»™t cách man rợ và mất hết tính người. Gã ý thức được rằng gã là con trai cá»§a đại bàng nên đã cả gan thách thức cả bá»™ lạc, thách thức vá»›i tất cả các giá trị đạo đức cá»§a xã há»™i bằng việc giết má»™t người con gái đẹp má»™t cách dã man trước mặt mọi người. Bản chất cá»§a gã con trai đại bàng được rút ra sau má»™t loạt đối thoại giữa gã và những người trong bá»™ lạc như sau: “nó tá»± coi mình là người thứ nhất trên đời và ngoài bản thân nó, nó không nhìn thấy gì nữa hết (…). Nó không có bá»™ lạc, không có mẹ, không có gia súc, không có vợ và cÅ©ng chẳng muốn các thứ đó”. Gã chính là hình ảnh cá nhân sống tách rời cá»™ng đồng. hình phạt có má»™t không hai trong câu chuyện như muốn nhắn nhá»§: là người hãy sống đúng như má»™t con người. Larra – kẻ bị ruồng bỏ cuối cùng đã nhận ra tác dụng cá»§a hình phạt khá»§ng khiếp đó, Từ câu chuyện trên, tác giả đã đưa đến cho chúng ta má»™t kết luận thấm thía về cách sống làm người: khi anh muốn rời xa mọi người thì anh sẽ phải chuốc lấy hậu quả không lấy gì làm tốt đẹp do chính anh gây ra. Cái đáng sợ nhất cá»§a con người chưa phải là cái chết mà là sá»± cô đơn, sống tách rời vá»›i xã há»™i và bị xã há»™i ruồng bỏ. Chi tiết những giọng hát ở cuối câu chuyện thật thú vị: đó là sá»± hoà đồng cá»§a những tâm hồn, Ä‘em đến cho lòng người cảm hứng mạnh mẽ đồng thời như chứng minh tiếp cho câu chuyện Larra bằng má»™t lời kết ngắn gọn “Tiếng hát át tiếng sóng”, và để cho tiếp nối má»™t câu chuyện má»›i, má»™t bài ca bất diệt về sức sống tràn trề ẩn chứa trong những con người bình thường.

Lyrics: Trầu cau (Phan Huỳnh Điểu)
Dec 24th, 2009 by tranhanam

0
Ngày xưa có hai anh em nhà kia
Cùng yêu thương ở cùng nhau bỗng đâu chia lìa.
Vì hai người cùng yêu mến một cô gái làng bên,
Nhưng người anh được kết duyên cùng nàng.
Vì như thế nên người em lòng buồn rầu bỏ ra Ä‘i khỏi làng…

Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu ?
Kìa sông sâu giòng êm reo như gợi mối sầu
nhìn nước cuốn lệ rơi tuôn biết sao vơi niềm thương
Kìa mây sầu giăng chơi vơi
Làm sao dừng cho nhắn đôi lời
Giòng nước lờ trôi mây trắng cùng trôi qua chốn nao
nơi xa xôi anh say sưa cùng ai đang xe mối tình duyên.
Thôi hết rồi giấc mơ huyền.
Qua bao nhiêu ngày ta đi lang thang bởi vì đâu ?
Ôi ta buồn ta Ä‘i quyên sinh cÅ©ng vì ai…

Tang tính tình tính tang tính tình bên sông sâu
tình Lang sinh thành phiến đá sầu thương theo ngày qua
Trông ngóng chờ tin không biết vì sao nên Tân sinh
Ra đi mong tìm em thương yêu nỗi niềm thương nhớ.

Qua bao ngày ta đi lang thang cố tìm em
Giòng sông êm đềm trôi cuốn như vương tiếng buồn
nhìn nước cuốn lệ rơi tuôn
biết sao ngăn niềm thương
Trời xanh cùng mây bay cao
Rừng sâu tìm em biết phương nào ?
Nhìn chốn rừng hoang nghe tiếng rừng vang
trong gió ngàn như than van
Bao nhiêu đau lòng sao ta đâu thấy hình em.
Thôi hết rồi phút êm đềm
Qua bao nhiêu ngày ta đi lang thang cố tìm em
Ôi ta buồn ta đi quyên sinh cũng vì em.

Tình tính tình tính tang tính tình tang tính tình
bên sông sâu
Người Tân Sinh gần phiến đá thành cây cau trồi lên Trông ngóng chờ tin không biết chồng sao
Nên bâng khuâng,
trong yêu thương nàng ra đi mong kiếm chồng yêu mến.

Đây cây rừng thông reo vi vu bóng chồng đâu ?
giòng sông ơi nào ai sớt cho vơi mối sầu ?
nhìn nước cuốn lệ rơi tuôn
Biết sao vơi niềm thương
Làn mây chiều đang giăng tơ
Nhìn mây lòng man mác trông chờ.
Kìa gió rừng lên xao xuyến lòng em thương nhớ chàng ôi sao quên ?
Mây ơi xin đừng bay cho ta nhắn vài câu.
Cho thấy chồng bớt nguôi sầu.
ôi đây cây rừng thông reo vi vu biết làm sao ?
Đây hương hồn em xin theo anh đến trời cao.

Tình tính tình tính tang tính tình tang tính tình
Bên sông sâu, niềm tương tư nàng chốc biến
thành ra dây trầu xanh.
Lưu luyến tình xưa âu yếm trầu leo quanh thân cau
Qua bao năm tình thiêng liêng kia thắm cùng mưa nắng…

Nguyá»…n Bính – Những mùa xuân tha hương
Dec 22nd, 2009 by tranhanam

0
  • NGƯT Trương Tham
Nguyá»…n Bính, là má»™t trong những nhà thÆ¡ viết nhiều về mua xuân. Nhiều bài thÆ¡ xuân cá»§a ông cứ như níu lấy hồn người vương vấn chút hương xuân xứ sở: “Bữa ấy mưa xuân phÆ¡i phá»›i bay. Hoa xoan lá»›p lá»›p rụng rÆ¡i đầy…” (Mưa xuân).
          Rồi những bài thÆ¡ viết trong những mùa xuân xa quê hương lại Ä‘em đến má»™t hương vị khác cá»§a thÆ¡ ông. Má»™t con người yêu quê hương tha thiết, nhưng lại quyết rời quê hương Ä‘i khắp miền đất nước, không có cái hÆ¡i thở cá»§a người “Li khách” trong thÆ¡ thâm tâm “Li khách, li khách con đường nhỏ. Chí lá»›n chưa về bằng tay không“. CÅ©ng không có nét phiêu bạt cá»§a Nguyá»…n Tuân “Đi để mà viết. Viết để lấy cái mà Ä‘i“. Không thÆ¡ má»™ng như Hữu Loan, không có cái hùng khí “Lên đường” cá»§a Hoàng Cầm … Có người gọi đó là những chuyến Ä‘i định mệnh. CÅ©ng có người gọi nhà thÆ¡ là thi sÄ© giang hồ. Tôi nghÄ© rằng khác, tạo hóa sinh ra má»—i con người hầu như không có ai hoàn thiện. Má»—i má»™t người đều có má»™t cái gì thiếu hụt, khiến chon con người cảm thấy hụt hẫng vá»›i nổi buồn bâng khuâng,gọi họ Ä‘i tìm kiếm để tá»± hoàn thiện mình. Cuá»™c đời ai chẳng là những chuyến Ä‘i. Tất nhiên má»—i người má»™t khác. Còn Nguyá»…n Bính là má»™t nhà thÆ¡.
          Năm tháng dài theo những chuyến Ä‘i, những mua xuân xa nhà thấm đượm trong khắp các tập thÆ¡ Nguyá»…n Bính tạo thành chất hương thÆ¡ quyến rÅ© đến nao lòng. Nhưng có lẽ phải đợi đến chuyến Ä‘i dài, Ä‘i lâu cá»§a nhà thÆ¡  vào phương Nam nổi niềm hoài hương ấy má»›i thật sá»± thấm thía. Điều cần tìm chưa tìm được, mùa xuân nÆ¡i đất khách, không nhà nhà thÆ¡ nhá»› về má»™t ká»· niệm thật xa. Má»™t chuyện tình thời thÆ¡ dại vá»›i má»™t người con gái tên Nhi. Để rồi mÆ¡ ước má»™t ngày gặp lại:
                   “Như chuyện Tương Như cùng Trác Thị
Đưa nhau về ở Đất Lâm cùng
Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng
                                      (Hoa vá»›i rượu)
          Nhưng mÆ¡ chỉ để mà mÆ¡ “Chị Nhi đã lấy chồng năm trước. Đến năm sau Nhi lại lấy chồng” còn gì buồn bằng khi biết mÆ¡, chỉ mãi là mÆ¡.
          Khi vào Nam, Nguyá»…n Bình sống thật khổ, thật đơn độc : “Từ buổi vể đây sống rất nghèo. Bạn bè chỉ có gió trăng theo“. Nhưng rồi năm tháng Ä‘i đã đưa ông đến niềm vui xuân nÆ¡i đất lạ “Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá“. Bởi vì ông đã tìm thấy nÆ¡i lối nhỏ đến xóm dừa này những tấm lòng mà ông và con người cần có :
Sao chẳng về đây lựa tứ thơ
Hỡi ơi ! Hồn biển rộng hơn bờ
            (Sao chẳng về đây)
          Càng yêu xuân trên mảnh đất miền Nam, ông càng tha thiết nhá»› về đất Bắc:
Vườn nhà Tết đến hoa còn nở
Chị gửi cho em một cánh hồng.
             (Xuân tha hương)
          Ná»—i buồn xa xứ, cuá»™c sống trôi dạt “Sòng đời thua nhẵn cả thÆ¡ ngây“. Má»—i mùa xuân đến quê hương càng thẳm  xa “Quê nhà xa lắc, xa lÆ¡ đó. Trông lại tha hồ mây trắng bay” (bài Hành phương Nam). Nhà thÆ¡ xót thương ân hận khi nhá»› về gốc phần. Khi còn trẻ “Mẹ cha thì nhá»› thương mình. Mình Ä‘i thương nhá»› người tình xa xôi”. Giờ đây lắng lại trong ông ná»—i đắng cay chua xót “Cha mẹ chiều chiều con nước mây“. Má»™t ná»—i hoài hương không sao nguôi được “CÅ©ng may cho những người lưu lạc. Càng khỏi trông trăng đỡ nhá»› nhà“. Nguyá»…n Bính là má»™t trong nhà nhà thÆ¡ có những câu viết về ná»—i cô đơn thật hay. Hồi ở Hà Ná»™i ông viết :
Những bóng người trên sân ga.
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì,
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.
          Nhưng có lẽ chưa bao giờ não nùng đến thế:
Hỡi ôi ! Trời đất vô cùng rộng
Nào biết tìm đâu một mái nhà
Có mắt như tịch xanh mà uổng
Đất khách cùng đường ta khóc ta .
     (Đêm mưa đất khách)
          Không phải ná»—i buồn về không gian, thời gian vá»›i sá»± vô cùng cá»§a tạo hóa và sá»± hữu hạn cá»§a kiếp người. Má»™t ná»—i buồn có thật, má»™t ná»—i buồn ly hương tha thiết. Nhất là trong những ngày xuân. Hương vị cá»§a những mùa xuân tha hương trong thÆ¡ Nguyá»…n Bính đã tạo thành má»™t hương vị rất riêng trong thÆ¡ ca dân tá»™c.
          Từ nÆ¡i bước đường cùng ấy, nhà thÆ¡ lại bắt đầu má»™t chuyến Ä‘i má»›i – Ä‘i vào cuá»™c kháng chiến trường kỳ cá»§a dân tá»™c. Trên chuyến Ä‘i má»›i này có những lúc tâm hồn ông trở nên vang động hào sảng lạ lùng. Ông đã viết những vần thÆ¡ thật hoành tráng được phổ nhạc thành  ca khúc Tiểu Ä‘oàn 307 lừng danh. Nhưng Nguyá»…n Bính vốn không phải con người tranh đấu. Ông là tình nhân cá»§a cuá»™c đời. Gian khổ, Ä‘au đớn, mất mác “Xót xa má»™t buổi soi gương cÅ©. Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ Ä‘iền” (Sao chẳng về đây). Nhưng không bao giờ để mất niềm thương nhá»› quê hương. 1954 ông tập kết về Bắc. Nguyá»…n Bính như trở lại vá»›i chính mình vá»›i những “đêm sao sáng” cá»§a những mùa xuân quê hương.
          Mùa thu 1965, tôi gặp Nguyá»…n Bính Ä‘i kéo xe than trên con đường từ Nam Định vào phía Vụ bản. Anh nói vá»›i tôi là anh Ä‘i lao động xã há»™i chá»§ nghÄ©a. Hai anh em ngồi lại dưới má»™t gốc cây ven đường. Anh mở nắm tay ra, trong bàn tay có 3 Ä‘iếu thuốc Tam đảo, quăn queo có lem vết than nữa. Anh bảo tôi : “Hút Ä‘i em”. Tôi nói vá»›i anh tôi ở Bình Định. Anh nói “Hồi vào Nam, anh có dừng lại ở ga Diêu Trì 3 ngày. Rồi như sá»±c nhá»› ra, anh nói “Ở đó họ bán bún mà bỏ giá sống vào ăn nó ngang ngang làm sao”. Anh nhìn tôi cười, răng anh vàng vàng vì thuốc lá. Anh chậm rãi nói “Nhưng có lẽ nó khác khác như vậy mà anh nhá»› hoài“. Tôi bảo anh, tôi rất thích tập thÆ¡ “Đêm sao sáng cá»§a anh” mà chỉ mượn đọc chứ chưa mua được”. Anh hỏi tôi – Em có còn nhá»› được câu nào không?.
          Tôi thuận miệng đọc 2 câu, cÅ©ng không nhá»› là ở bài nào :
Trái na mở mắt nhìn ngơ ngác
Đàn kiến trường chi tự thuở nào.
          Anh cười nhìn xa, không nói gì. Rồi anh hẹn tôi bữa nào lên chá»— anh chÆ¡i, anh còn má»™t quyển sẽ tặng cho. Tôi lần lá»±a chưa kịp Ä‘i thì 29 tháng chạp năm ấy hay tin anh qua đời. Mấy anh em chúng tôi đưa anh về nghÄ©a trang Cầu Họ. Không có má»™t người nào là ruá»™t thịt cá»§a anh. Đám tang Ä‘i, trong lúc mọi người nao nức chuẩn bị đón Tết. Khi ném má»™t nắm đất vào má»™ tiá»…n đưa anh tôi chợt nghÄ©: – Chẳng hiểu đến giờ phút này “anh đã tìm được những gì mà anh khao khát hay chưa?”, lạ thay ! Con người hay viết về mùa xuân này, lại ra Ä‘i giữa lúc mùa xuân Ä‘ang đến.
            Trương Tham
(Trường THPT Trưng Vương, Tp Quy Nhơn)
Danh mục tài liệu tham khảo – 11 chuyên Văn
Dec 20th, 2009 by tranhanam

0

Danh mục tài liệu tham khảo tối thiểu.

Về ý nghĩa hàm ẩn

1) Cao Xuân Hạo: Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn, trong sách:Tiếng Việt, Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb.Giáo dục, 1999.

2) SGK Tiếng Việt , quyển do GS Cao Xuân Hạo biên soan, Nxb GD,

3) Đỗ Hữu Châu: Ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tường minh (chương 4, Đại cương ngôn ngữ học tập 2, Ngữ dụng học), Tuyển tập Đỗ Hữu Châu , tập hai, Nxb. Giáo dục, 2005.

4) Trần Đình sử. Tính mơ hồ, đa nghĩa của văn học, trong sách: Lí luận và phê bình văn học, Nxb. Giáo dục, 2003.

Về làm văn nghị luận

1) Phan Kế Bính (1970)- Việt Hán Văn khảo, Mặc Lâm xuất bản. Sài Gòn.

2) Bộ GD&ĐT (2006)- Chương trình GD phổ thông môn Ngữ văn. NXB GD.

3) Phạm Văn Đồng (1973)- Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, NCGD, số 28, 11/1973.

4) Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi ( 2004) – Từ điển thuật ngữ văn học- NXB GD. HN ( tái bản , chỉnh lí).

5) Nguyễn Hiến Lê (1962)- Hương sắc trong vườn văn – 2 quyển. NXB Nguyễn Hiến Lê , Sài Gòn.

6) Nguyễn Đăng Mạnh, chủ biên (2000)- Văn: Bồi dưỡng học sinh năng khiếu THCS . NXB ĐHQG HN.

7) Nguyễn Đăng Mạnh, chủ biên (2002)- Văn: Bồi dưỡng học sinh giỏi THPT NXB ĐHQG HN.

8) Nhiều tác giả ( 2003 )- Văn nghị luận đầu thế kỉ XX- NXB Văn học

9) Nhiều tác giả ( 2003)- Một góc nhìn của tri thức, 3 tập, NXB Trẻ.

10) Nhiều tác giả ( từ 1999…)- Về tác gia và tác phẩm ( Bộ sách nhiều tập)- NXB GD. HN.

11) Trần Đình Sử (2003)- Đổi mới dạy học Làm văn ở THPT. Tạp chí Văn học và tuổi trẻ.

12) Đỗ Ngọc Thống (1997)- Làm văn từ lý thuyết đến thực hành. NXB GD.

13) Đỗ Ngọc Thống (2004): Đề văn nghị luận -Tạp chí Văn học và tuổi trẻ

14) Đỗ Ngọc Thống (2005): Vai trò của lập luận trong văn nghị luận -Tạp chí Văn học và tuổi trẻ

15) Đỗ Ngọc Thống (2005): Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn- Tạp chí Dạy học xưa và nay

16) Đỗ Ngọc Thống (2006): Luận điểm của bài văn nghị luận -Tạp chí Văn học và tuổi trẻ

17) Đỗ Ngọc Thống (2006) – Tìm hiểu chương trình và SGK Ngữ văn THPT- NXB GD.

18) Đỗ Ngọc Thống (2007): Đổi má»›i đề thi Ngữ văn và những ngá»™ nhận cá»±c Ä‘oan – Tạp chí Khoa học Giáo dục và tạp chí Văn học và truổi trẻ .

19) Đỗ Ngọc Thống (2007): Làm văn (giáo trình cho trường CĐSP) – NXB ĐHSP Hà Ná»™i .

Về văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945

1) Mã Giang Lân chủ biên. Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam 1900 – 1945, Nxb. Văn hoá thông tin, 2000.

2) Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1997.

3) Hoài Thanh. Thi nhân Việt Nam, tái bản nhiều lần.

4) Hoài Thanh. Bình luận văn chương Nxb. GD, 1998.

5)Vũ Ngọc Phan. Nhà văn hiện đại, tái bản nhiều lần.

6) Chu Văn Sơn. Ba đỉnh cao thơ mới, Nxb. GD, 2003.

7) Xuân thu nhã tập.

8) ThÆ¡ má»›i 1932 – 1945, tác gia và tác phẩm, Nxb. Há»™i nhà văn, 1999.

9) Phan Cự Đệ. Tự lực văn đoàn, con người và văn chương, Nxb. Văn học, 1990.

10) Phan Cự Đệ. Phong trào thơ mới, 1966.

11) Phan Cự Đệ. Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), Nxb. GD. 1997.

12) Phan Cá»± Đệ – Hàn Mặc Tá»­, tác phẩm, phê bình và tưởng niệm, Nxb. GD., 1998.

13) Hà Minh Đức. Một cuộc cách mạng trong thi ca. Nxb. Văn học.

14) Thơ mới 50 năm nhìn lại, Nxb. GD, 1992.

14) Hà Minh Đức. Tự Lực văn đoàn, trào lưu và tác gia, Nxb. GD, 2007.

15) Nguyễn Đăng Mạnh tuyển tập, hai tập, Nxb. Giáo Dục, H., 2006..

16) Đỗ Lai Thuý Con mắt thơ. Nxb. GD., H., 1998.

17) Nhiều tác giả . Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb., Hội nhà văn, H., 1992.

18) Má»™t số chuyên luận cá»§a các tác giả Lê Quang Hưng, Đinh Trí DÅ©ng, Lê Dục Tú, Nguyá»…n Thanh Tú., Nguyá»…n Quang Trung…

Về lí luận văn học

1) Giáo trình lí luận văn học, (Phương Lựu chủ biên) chương Tiếp nhận văn học, Nxb., GD, H., 1998.

2) Lí luận văn học, Trần Đình Sử chủ biên, tập hai, dùng cho sinh viên cao đẳng sư phạm, Nxb., ĐHSP, 2003.
(Nguồn: Bá»™ GD – ĐT)

Danh mục tài liệu tham khảo – 10 chuyên Văn
Dec 20th, 2009 by tranhanam

0

Dành cho phần văn học dân gian:

1) Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam – VÅ© Ngọc Phan Nxb KHXH. 1978 ( in lần thứ năm)

2) Văn học dân gian Việt Nam – Hoàng Tiến Tựu – Nxb GD. 1998

3) Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam- Chu Xuân Diên- Lê chí Quế- Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 1996

4) Nghiên cứu sá»­ thi Việt Nam – Phan Đăng Nhật – Nxb KHXH. 2001

5) Sử thi anh hùng Tây Nguyên – Võ Quang Nhơn- NXB GD. 1997

6) Phân tích tác phẩm văn học dân gian - Đỗ Bình Trị – Nxb GD. 1995

7) Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ – Hoàng Văn Hành ( chá»§ biên) – Viện Ngôn ngữ học – Nxb KHXH. 1999

8) Tiếng cười dân gian Việt Nam- Trương Chính- Tạ Phong Châu- NXB KHXH. 1979

9) Thi pháp ca dao – Nguyễn Xuân Kính – Nxb KHXH. 1991

Dành cho phần văn học trung đại:

1) Văn học Việt Nam ( thế kỉ X – ná»­a đầu thế kỉ XVIII) – Đinh Gia Khánh- NXB GD. 2000

2) Nguyá»…n Trãi- Về tác gia và tác phẩm – Nxb GD. 1999

3) Nguyá»…n Du – Về tác gia và tác phẩm – Nxb GD. 2002

4) Từ điển truyện Kiều- Đào Duy Anh- NXBKHXH. 1974

5) Nguyễn Du- một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn- Hoài Thành toàn tập, tập II. 1998.

6) Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du- Từ Hải- trong Bình luận văn chương Hoài Thanh –NXB GD 1998

7) Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều- Phan Ngọc- NXB KHXH. 1985

8) Từ điển điển cố văn học trong nhà trường - Nguyễn Ngọc San ( chủ biên)- Nxb GD. 1998

9) Thi pháp Truyện Kiều – Trần Đình Sử – Nxb GD. 2002

10)Giảng văn truyện Kiều - Đặng Thanh Lê- NXBGD. 1998

11)Mấy vấn đề về thi pháp văn học trung đại. Trần Đình Sử- Nxb GD. 1997

12)Đến với bài thơ hay – Lê Trí Viễn – Nxb GD. 2000

13) Phác thảo đặc trưng thi pháp văn học trung đại Việt Nam- Văn bồi dưỡng HS giỏi THPT- Nguyễn Đăng Mạnh- ĐHQG Hà Nội 2002.

14)Bình giảng thơ nôm Đường luật – Lã Nhâm Thìn – NXB GD 2002.

Dành cho phần văn học nước ngoài:

1) Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường- NXB GD- 1999, 2000

2) Thi pháp thơ Đường – Nguyễn Khắc Phi- Trần Đình Sử – Nxb Đà Nẵng 1997

3) ThÆ¡ văn cổ Trung Hoa- Mảnh đất quen mà lạ – Nguyá»…n Khắc Phi – Nxb GD 1998

4) Bashô và thơ Haiku- Phan Nhật Chiêu- NXB Văn học. H. 1994

5) Chân dung các nhà văn thế giá»›i – Lưu Đức Trung ( chá»§ biên) – NXB GD. 2004

Dành cho phần lí luận văn học

1) Lí luận văn học – Tập má»™t – Phương Lá»±u, Trần Đình Sá»­, Lê Ngọc Trà – NXBGD 1986

2) Lao động nhà văn – A.Xâytlin (Hoài Lam và Hoài Li dịch) – Hai tập – NXB Văn học 1968

3) Từ trong di sản – NXB Tác phẩm mới, 1981

4) Đời viết văn cá»§a tôi – Nguyá»…n Công Hoan – NXB Văn học, 1971.

5) Một số kinh nghiệm viết văn của tôi – Tô Hoài – NXB Văn học, 1960.

6) Hỏi chuyện các nhà văn – Nguyá»…n Công Hoan – NXB Tác phẩm má»›i, 1977

Dành cho tiếng Việt và làm văn

1) Từ điển tiếng Việt 2000 - Viện Ngôn ngữ học

2) Từ điển thuật ngữ văn học- Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi- nxb GD, 2005

3) Tiếng Việt, văn Việt, người Việt – Cao Xuân Hạo – Nxb Trẻ. 2001

Văn bồi dưỡng Học sinh giỏi THPT- Nguyễn Đăng Mạnh ( chủ biên) – Nxb ĐHQG Hà Nội .2002
(Nguồn: Bá»™ GD – ĐT)

Tuyển thơ chuyên Anh khóa 4
Dec 16th, 2009 by tranhanam

0
Bay bay bụi phấn – thÆ¡: Tiểu Quỳnh

ThÆ¡ Phương Giang – Cổ tích mười bảy

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Dec 15th, 2009 by tranhanam

0
(Bài viết cá»§a thầy giáo Trương Văn Quang
Chuyên viên Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Nam)

A/Điểm chung
I/Loại: Cả 3 dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học đều thuộc loại bài nghị luận xã hội.
II/Thao tác: Các dạng bài NLXH đều vận dụng chung các thao tác lập luận là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Ba thao tác cơ bản nhất là giải thích, chứng minh, bình luận.
1/Giải thích
a/Mục đích: Hiểu
b/Các bước:
-Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề. Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là má»™t câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc má»™t ý tưởng do người ra đề đề xuất, người viết cần lần lượt giải nghÄ©a, làm rõ nghÄ©a cá»§a vấn đề theo cách Ä‘i từ khái niệm đến các vế câu và cuối cùng là toàn bá»™ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diá»…n đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghÄ©a Ä‘en lẫn nghÄ©a bóng cá»§a từ ngữ. Nếu vấn đề là má»™t hiện tượng đời sống, người viết cần cho biết đó là hiện tượng gì, hiện tượng đó biểu hiện ra sao, dưới các hình thức nào (miêu tả, nhận diện)…
Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi LÀ GÌ.
-Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu có vấn đề đó). Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù của thao tác giải thích. Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi TẠI SAO.
-Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn cuộc sống như thế nào. Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như thế nào.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi NHƯ THẾ NÀO.
**Lưu ý:
-Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn. Mục đích đặt câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn. Cũng có thể không cần đặt trực tiếp ba câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận điểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó. -Tuỳ theo thực tế của đề và thực tế bài làm, bước NHƯ THẾ NÀO có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt buộc.
2/Chứng minh
a/Mục đích: Tin
b/Các bước:
-Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.
-Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.
3/Bình luận
a/Mục đích: Đồng tình
b/Các bước:
- Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
- Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai). Làm tốt phần này chính là đã bước đầu đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
- Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn.
- Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại.
B/Nét riêng
I.Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.
2.Đề tài:
-Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…).
-Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lượng; tính trung thá»±c, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ…).
-Về quan hệ gia đình (tình mẫu tá»­, tình anh em…).
-Về quan hệ xã há»™i (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).
3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:
-Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (hiểu vấn đề cần nghị luận là gì).
-Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận.
-Nêu ý nghĩa của vấn đề (bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí).
4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:
- Tình thương là hạnh phúc của con người.
- “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”
Ý kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân?
- Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.
- Suy nghĩ của em về triết lí sau: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học cách làm cần câu và cách câu cá”.
- Trả lời câu hỏi điều tra của nhà bác học Hantơn, nhà bác học Đacuyn nói về kinh nghiệm thành công của mình như sau: “Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có giá trị một chút, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học.”
Bình luận câu nói trên. Anh, chị có suy nghĩ gì về con đường học tập sắp tới của mình?
- “Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của nguời bạn, người anh em, của bố mẹ mình hoặc của bất cứ một đồng bào nào mà em gặp, nếu đứa trẻ không biết đọc trong mắt người khác điều đang xảy ra trong trái tim người đó thì đứa trẻ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính.”
Em hãy bày tỏ ý kiến của mình về nhận định trên của nhà sư phạm Xukhômlinxki.
- Bình luận danh ngôn: “Tiền mua được tất cả, trừ hạnh phúc.”
- Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng cả nước nhân dịp Tết 1946, Bác Hồ viết:
“Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”
Hãy giải thích và nêu suy nghĩ của em về lời dạy của Bác.
- Giải thích câu nói của Gorki: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.”
- Đồng chí Lê Duẩn có nói: “Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái.”
Em hiểu câu nói đó như thế nào?
- Nhà thơ Pháp La Phôngten (La Fontaine) có nói :
« Tính ích kỉ là thuốc độc giết chết tình bạn. »
Hãy bình luận câu nói trên.
- Suy nghĩ của em về câu danh ngôn: “Một người bạn chân thành là một người bạn tốt”.
- Một nhà giáo dục đã nêu một quan niệm như sau:
Con đường từ nhà đến trường của mỗi người học sinh tuy khác nhau nhưng nơi đến ở cuối mỗi con đường ấy đều giống nhau: ở đó, có một ngôi trường đầy tình thân và sự san sẻ.
Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó.
-Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết.
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
- Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói:
“Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” (Nguyễn Bá Học)
- Phải chăng, “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi.”?
- “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống.” (Lép Tôn-xtôi)
Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng của mình.
- Phải chăng “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống.”? (Noóc-man Ku-sin, theo “Những vòng tay âu yếm – NXB Trẻ, 2003).
- Tiền tài và hạnh phúc.
- “Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ.”
Anh, chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó?
II/Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống
1/Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.
2.Đề tài: Những hiện tượng tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm.
-Chấp hành luật giao thông ở nông thôn.
-Hiến máu nhân đạo
-Nạn bạo hành trong giao đình
-Phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi
-Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn
-Cuộc đấu tranh chống nạn phá rừng
-Những tấm gương người tốt việc tốt
-Nhiều bạn trẻ quên nói lời xin lỗi khi mắc lỗi
-Nhiều bạn trẻ quên nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ
-…
**Lưu ý:
Nên quy thành từng cụm đề tài nhỏ như dạng bài NLVMTT, ĐL để dễ nhận diện:
-Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…).
-Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lượng; tính trung thá»±c, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ…).
-Về quan hệ gia đình (tình mẫu tá»­, tình anh em…).
-Về quan hệ xã há»™i (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).
3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:
-Nêu rõ hiện tượng.
-Nêu nguyên nhân. Phân tích các mặt đúng-sai, lợi-hại.
-Bày tỏ thái độ, ý kiến về hiện tượng xã hội đó.
4.Một số đề tham khảo:
- Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.
Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.
- Về hiện tượng ngày càng có nhiều người rời bỏ quê hương để đổ xô về các thành phố lớn.
- Về hiện tượng nhiều người trong lớp trẻ hôm nay lạnh nhạt với âm nhạc truyền thống.
-…
III/Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.
2.Đề tài:
Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học, *Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học.
3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:
a/Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện).
b/Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện).
4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:
-Từ đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ, nghĩ về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người.
-Đọc văn bản “Hoa hồng tặng mẹ”:
Nêu suy nghĩ của anh (chị) từ ý nghĩa của câu chuyện “Hoa hồng tặng mẹ”.
-
“Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao!
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con”
Từ bài ca dao, hãy bàn về vấn đề lẽ sống của con người Việt Nam.
-Từ tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng, hãy bàn về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội.
-Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nghĩ thêm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.
Đêm thành phố
Dec 14th, 2009 by tranhanam

0
  • Truyện ngắn
            Thành phố về khuya uể oải như má»™t cô gái sau khi gá»™t hết phấn son má»›i nhận biết mình Ä‘ang tàn tạ. Không gian lặng đến ná»—i có thể nghe thấy tiếng lá khô xạc xào trên mặt đường. Thỉnh thoảng lại rá»™ lên tiếng xe máy rú hết tốc lá»±c cá»§a má»™t anh chàng nào Ä‘i chÆ¡i về muá»™n.
            Bây giờ đã quá ná»­a đêm. Đứng ở bao lÆ¡n cá»§a khu nhà tập thể, Bình lặng lẽ thả những vòng khói xanh nhạt, đốm lá»­a cá»§a Ä‘iếu thuốc cứ lập loè đỏ trên môi loé lên trong bóng tối. Anh đã có má»™t thói quen khó bỏ là không bao giờ ngá»§ trước 12 giơờkhuya. Thói quen đó hình thành từ những ngày anh còn học Đại học sư phạm, nÆ¡i ban ngày lúc nào cÅ©ng ồn ào, chỉ đêm về má»›i đủ tÄ©nh để tập trung học bài. Hồi đó, bạn bè đã đặt cho Bình biệt hiệu “vạc ăn đêm” cÅ©ng bởi cái tính thức khuya này.
Càng về khuya, hình như thời gian càng trôi thật chậm. Có lẽ giờ này chỉ có những mắt đèn còn thức, toả ánh sáng xanh xao trên mặt đường. Bên kia đường, đám bụi đời đã tập trung về trước ổng một cơ quan, rải những manh chiếu hôi sì, quắp lấy nhau ngủ như chết. Cái đám người khốn khổ khốn nạn ấy gồm đủ loại tứ chiếng giang hồ, đã nghiễm nhiên tồn tại ngày này tháng khác ở cái thành phố N. này, không ngán chiếc roi pháp luật! Truy đi quét lại, dăm bữa nửa tháng đâu lại hoàn đấy. Đã bao lần Bình tự hỏi: không biết trong bọn họ, có ai đã từng một lần dằn vặt lương tâm vì hậu quả họ đem lại cho cuộc sống này chưa nhỉ? Hay họ xem móc túi, trộm cắp, mua bán dâm… mặc nhiên cũng là một nghề được xã hội thừa nhận? Anh nhớ lại đã có lần định viết một bài phóng sự điều tra về tệ nạn này, thế nhưng mơí chỉ trình bày ý tưởng, “sếp” đã gạt đi và nhìn anh bằng con mắt thương hại: “Cậu nhiệt tình cũng tốt đấy, nhưng đề tài này lâu nay đến các anh chị phóng viên làm cả chục năm cũng chưa dám làm. Đừng có dại dột mà nhúng vào!”. Thế đấy! Anh chỉ còn biết nhếch mép cười, rồi câm lặng bỏ đi. Đành phải chấp nhận thôi, trong cái thế của mình! Dẫu cho cố đấm ăn xôi mà viết được chăng nữa, không biết có ai tỏ ra vui mừng hay không, hay họ lại ném những tia mắt hằn học ganh ghét cho một thằng “chíp hôi” chưa ráo máu đầu mà đã lên mặt ti toe?
Đêm khuya, gió thổi mạnh hơn làm Bình rùng mình cảm thấy lòng như se lại. Lại sắp sang một mùa đông nữa rồi! Và anh cũng đã làm phóng viên được hơn một năm. “Thức khuya mới biết đêm dài…”, đến tận bây giờ anh mới chiêm nghiệm đầy đủ hơn cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của câu tục ngữ này. Trước kia, có mấy khi anh quan tâm đến khái niệm thời gian đâu, thời sinh viên vô tư lãng mạn, nhiều khi lại muốn thời gian ngừng trôi để Bình có thể ngồi bên người yêu nói những lời không đầu không cuối đầy đam mê…
**
*
…Khuya, sao càng lúc càng nhiều làm sáng nhờ nhờ cả bầu trời đen thẫm . tiếng Hương thầm thì bên tai làm Bình sực tỉnh khỏi cảm giác bềnh bồng:
- Nhìn kìa anh, đến giờ em mới tin bầu trời đêm nhiều lúc cũng xanh huyền hoặc đó!
Bình mỉm cười âu yếm:
- Vậy mà chỉ còn mấy ngày nữa thôi, anh chẳng còn được ngắm đôi mắt lấp lánh của em nữa rồi!
Bất giác, cả hai cùng thở dài…Trời xui đất khiến hai đứa thương nhau mà lại ở cách nhau hàng trăm cây số. Một mai ra trường, mỗi đứa một phương trời. Thời gian…! Đó là lần đầu tiên Bình nghĩ đến thời gian và khoảng cách. Cả hai còn quá trẻ và quá nhiều khát khao. Ngày mai bộn bề trăm mối lo: xin chỗ dạy, tính toán chi tiêu, những mối quan hệ mới… Hơi thở của Hương bỗng gấp gáp:
- Bình ơi, mai mốt hai đứa xa nhau, những đêm như đêm này, anh nhớ em nhiều chứ? Anh hứa đi, anh sẽ không nhìn vào đôi mắt nào xa lạ, để quên mất Hương của anh, mãi mãi là của anh…anh nói đi!
Bình không trả lời, chỉ nhìn thật sâu vào đôi mắt người yêu đang long lanh ngấn nước. Tan đi, tan ra đi, ước chi tình yêu hoá thành phép lạ cho hai đứa tan vào nhau làm một, ngay bây giờ! Đêm thật thanh bình, man mác tiếng sóng biển rì rầm hoà theo nhịp tim của hai kẻ yêu nhau. Anh tin lắm, Hương ạ…ngày mai chúng ta sẽ vào đời, sẽ đứng trên bục giảng nói những điều tốt đẹp cho lớp học trò mộng mơ, trong trắng…Anh tin chúng mình sẽ về lại với nhau, sống đạm bạc nhưng lại càng thông cảm, yêu nhau, hiểu nhau nhiều hơn nữa. Anh sẽ tự hào về người vợ hiền dịu, đảm đang của anh. Đêm đêm, hai đứa sẽ chụm đầu cùng soạn giáo án, chấm bài, sẽ không khác thời học chung tuổi sinh viên bây giờ…Đừng anh, em muốn chúng mình giữ trọn vẹn cho nhau! Em tin, em tin lắm. Xa nhau, em sẽ cố đừng để buồn nhiều, vì em đã yên tâm sống trong niềm tin yêu về anh, về Tình Yêu của chúng mình…
Biển ngời lên những đốm sao tan hoà theo con sóng. Xa xa, mắt hải đăng nhấp nháy. Cả hai cùng yên lặng dõi nhìn ra biển khơi, sao Mai đã xuất hiện ở chân trời, lung linh như niềm hy vọng…
***
Tiếng chó sủa râm ran phía xa đã cắt đứt dòng hoài niệm của Bình. Dưới đường, hai bợm nhậu đang dìu nhau lốc thốc lảo đảo. Lại người say! Bình cau mày. Sao bây giờ lắm người say đến thế! Những tiếng lè nhè vọng lên cho biết hai chàng đã “quắc cần câu”. Mấy gã bụi đời bị đánh thức làu bàu chửi rủa rồi lại co quắp ngủ. Chả dại gì bọn họ dây vào các đệ tử Lưu Linh cả. Men rượu chả giải quyết được gì, chỉ làm cho con người mờ lý trí. Đấy, cứ nghe:
- Anh…Hai, anh…để…để thằng em…ngá»§ đây vá»›i…đám kia cÅ©ng được! Ấc!…Mẹ nó, thất nghiệp thì khác…khác đ…gì thằng bụi đời! Anh vê…ề…đi! Tui…chưa “xỉn” mà…mà lo!
- Mày…nghe tao…đi về! Không thì tao …đá một cái thấy mẹ…bây giờ! Sướng ích gì…mất việc mà đi “quậy”!
- Anh…anh chửi tui…há anh Hai? Tui …không ngán đâu à nghen! Anh ngon…chửi thằng giám đốc…chỉ giỏi nói láo! Mẹ nó,…hoàn thành vượt…vượt mức kế hoạch mà thợ bậc 5/7 lại ra đường…Chó đẻ vậy…không quậy thì làm gì? Tôi hỏi…làm gì…hả…ả…?
Hai bóng say cuối cùng cũng đi khuất. Nhưng Bình vẫn cứ nôn nao vì đoạn đối thoại vô tình anh nghe được. Cái thời buổi bung ra này, được một việc sao mà chua chát thế! Hoá ra anh vẫn còn nằm trong số những kẻ may mắn. Có việc làm vẫn hơn, dù cho là làm hợp đồng chăng nữa!
Sao vẫn sáng đặc trời. Các hình khối nhà đen thẫm, trần trụi, tắt mọi sắc màu hào nhoáng. Cái trần trụi, buồn tẻ dường như mới chính là không khí thật ở thành phố này. Bình chợt nhớ đã lâu lắm rồi mình không làm thơ. Thơ là nơi anh gửi gắm những khát khao, ước vọng mãnh liệt của mình. Nhưng lâu nay cảm xúc đã trôi tuột theo cái nhịp đều đặn của tháng ngày. Nhiều lúc chính anh cũng băn khoăn không biết anh có còn là Bình của ngày xưa nữa không. Cuộc sống đã giúp anh nhận ra con đường thẳng ít khi dẫn đến đích và không có sẵn khuôn để làm nên sự hoàn hảo. mọi thứ đã bị bóp méo, đảo lộn gần hết. Có buồn có vui cũng phải giấu kín trong lòng, người ta khó chấp nhận sự phát triển của những cá tính mạnh. Im lặng là vàng. Bình sẽ không quên những việc đã làm anh dằn vặt suốt một năm làm việc của mình. Một năm mình chưa phải là mình. tội nghiệp cho Hương, nàng hy vọng quá nhiều vào mình! Bình còn nhớ như in những lời trong thư Hương chia vui cùng anh khi biết anh được nhận làm phóng viên hợp đồng cho báo: “…em tin Bình của em sẽ nhanh chóng tạo được chỗ đứng vững vàng. Làm nghề này, thu nhập sẽ khá hơn, mai này tụi mình sẽ đỡ lo vật chất phải không anh? Em hy vọng anh sẽ phát huy được tài năng của mình.”.
Bình cũng không ngờ mình lại có ngày làm báo. Cũng nhờ cái tiếng học giỏi mà anh đã nhanh chóng được nhận làm hợp đồng, trong khi hơn hai phần ba số bạn bè vẫn nằm dài chờ việc. Âu cũng là cái duyên tiền định chăng? Hồi học lớp 11, Bình chả gì cũng đã làm “chủ bút” của tờ “Báo Lố” do chính anh “sáng lập” đấy thôi! Của đáng tội, cũng tại cái máu viết lách lại nghịch ngợm nên tờ “Báo Lố” cũng đã chịu khá nhiều tai nạn do nhiều người tính “nghiêm chỉnh” không thích toàn nói chuyện…bố láo! Một mình Bình hồi đó vừa chủ bút, vừa phóng viên, vừa hoạ sĩ, đâm thọc hết người này đến người kia. Hồi đó, cũng chỉ vì dám viết những chuyện động trời như cười giễu, khui ra mánh lới của tụi bạn quay cóp, rồi chuyện giáo viên bắt học sinh cưa củi cho nhà mình tính điểm lao động…mà “chủ bút” phải nhiều phen sóng gió, không hiếm phen bị đấm nổ đom đóm mắt. Nhưng hầu hết ở lớp đều khoái, chuyền tay nhau tờ “Báo Lố” viết tay của Bình đến nát nhàu và tuần nào cũng ngóng số mới ra đời để biết chuyện mới, sau này lại thêm bốn năm “cộng tác viên” đắc lực… Nhưng đó là chuyện thuở “nhất quỷ nhì ma…”. Đến khi bước vào nghề báo thực thụ, Bình mới thấm những nỗi cực nhọc, cay đắng của nghề.
***
Tiếng dế ri rỉ bỗng cất lên làm đêm thêm hoang vắng. Bình thở dài. Ngày mai anh còn phải hoàn thành bản tin về một công trình của thanh niên xung phong tỉnh nhà. từ chập tối đến giờ anh vẫn chưa viết được dòng nào, hễ vào phòng là lại váng vất đầu, dường như men bia của hôm qua đến giờ mới ngấm. Anh nhớ lại khuôn mặt láu cá, đỏ phừng phừng của tay tổng đội trưởng mà cảm thấy ngán ngẩm: “Ông phóng viên cứ viết cho hay vào nhé, mà phải chờ cụ “bí” về rồi hẵng phát, chứ “cụ” không được biết thì lại cứ chửi tụi này ăn hại nhà nước suốt!”. Bình thoáng rùng mình khi cô chiêu đãi cầm tờ thanh toán vào, anh sửng sốt không tin vào mắt mình: gần 600 ngàn đồng, cộng khoản hồi sáng cũng ngót nghét gần triệu bạc. Thực ra đây cũng chỉ là con số nhỏ nhoi so với nhiều đơn vị kinh tế khác chi ra cho một buổi liên hoan. Nhưng anh vẫn cảm thấy đắng trong họng. Mấy tay ngân hàng đi nghiệm thu công trình thanh niên để duyệt cho vay vốn giờ cũng đã xiểng tảng gục đầu lên bàn, vòng tay qua mấy em “phục vụ” đang lè nhè giọng say: “Anh, anh không chết đâu anh…”. Giọng cười hăng hắc đuổi theo Bình đến tận nhà, anh nôn thốc nôn tháo những lẩu, những gà hầm thịt quay ra nhà vệ sinh rồi nằm vật vã cho đến sáng. Anh biết bài báo của anh có thể đem lại “quota” cho mấy tay thanh niên xung phong nọ. Sự đời có qua có lại…! Nhưng nếu không viết, anh sẽ bị chất vấn, bị cái tội “không hoàn thành nhiệm vụ”. Viết thì…! Anh không biết khi cái công trình thanh niên kia hoàn thành thì đến mấy chục phần trăm sẽ phải bỏ ra để bù lỗ? Băn khoăn cũng chả ích gì, ở địa vị anh, có lẽ người ta sẽ tặc lưỡi: “Ôi dào, giờ này làm ăn kinh tế là phải thế! Lương tâm không bằng lương tháng, lương tháng không bằng lương ‘lẹo’!”.
Bình lại nhớ đến Hương. Nàng cũng thuộc vào số may mắn. Xin được việc làm, lại biên chế đàng hoàng ở Hội phụ nữ trong đó. Gì thì gì, người trong biên chế bao giờ cũng có thể tự cho phép mình ung dung hơn kẻ hợp đồng. Nhưng biên chế như Hương thì thu nhập mỗi tháng chỉ đủ tiền mua gạo và một ít son phấn. Hương đã viết thư sao nhỉ? “Em cảm thấy mình còn sướng hơn nhiều chị khác cùng cơ quan, cũng đồng lương như vậy mà phải nuôi thêm 2, 3 con nhỏ, cực lắm! Bình ơi, đôi khi em vẫn tiếc vì ước mơ đi dạy không thành. Có phải chúng mình hồi đó nhiều mơ mộng quá không anh?”. Phải rồi, Hương à! Cả anh và em đều là những kẻ quá nhiều mơ mộng. Và đến giờ anh vẫn là kẻ mộng mơ, có điều những giấc mơ đầy hoang tàn, trống vắng…Bình của em nhiều lúc phải làm một thằng nói dối, một kẻ hèn nhát run sợ không dám nói những sự thật phũ phàng. Anh biết Hương của anh sẽ không thể chịu nổi nếu anh mất việc phải về nhà nằm dài ăn bám đồng lương hưu của cha mẹ. Dù chán ngán sự đời đến đâu, con người ta vẫn phải “tay làm” thì “hàm” mới có “nhai”. Và cái nguyên tắc phục tòng vô điều kiện chính là điểm tựa vững chắc nếu anh không muốn bị cho ăn bùn. Bình biết rõ điều đó. Nhưng anh vẫn còn nuôi dưỡng ý nghĩ thật kỳ quặc. Chẳng hạn, lang thang một mình theo các dãy phố, nhìn người ta yêu nhau, để tự thấy mình lạc lõng giữa những người vui vẻ trong thành phố náo nhiệt này. Kết thúc hành trình mộng du của anh bao giờ cũng là nơi eo biển vắng người. Biển bao la như mở rộng một vòng tay thân ái. Không phải anh còn quá lãng mạn ư, mà sao cứ vơ vẩn một câu hỏi: có phải xung quanh mình, lòng tốt đều là giả tạo? Sao người ta không sống rộng rãi như biển, đằm sâu như biển? Rồi cũng chính anh lại trả lời: tại vì họ cứ khăng khăng nhận mình là một người chân chính. Chín người mười ý, ai dễ chịu ai? Anh nhớ tới một qui luật của môn triết học: qui luật phủ định của phủ định, và cũng không quên qui luật ứng dụng vào tự nhiên đôi khi cũng có độ sai biệt rất lớn khi ứng dụng vào xã hội. Biết đâu một mai anh chẳng nghĩ khác, chẳng trở thành một con người khác. Không suy tư, không hờn giận, không yêu thương và không còn biết sợ bất cứ điều gì. Bao giờ? Không, không có lẽ anh đã trở thành bi quan đến thế rồi sao?
Bình quay vào phòng. Trang giấy trắng tinh, anh nắn nót: “Hương thương yêu!…”. Những số liệu trong sổ công tác không còn ám ảnh anh nữa. Công việc vẫn cứ là công việc. Anh tin vào khả năng cá»§a mình. Anh sẽ xoa Ä‘i được những mặc cảm triền miên, sẽ chiến đấu vá»›i cuá»™c sống này dù cho đơn thương độc mã. Ngày mai…ngày mai anh còn có Hương, còn có tình yêu nghÄ©a là còn tất cả. Trước mắt anh, Hương Ä‘ang cười, nụ cười tin yêu và ánh mắt vẫn như ngày nào lấp lánh nhìn anh.
Đàng xa, phía chân trời, sao Mai đã hiện ra, rực rỡ…
Thành phố đã bắt đầu hồi sinh trong nhịp chân rộn rã của những người đi tắm biển sớm mai.
                                           Qui NhÆ¡n, tháng 10 năm 1991
                                                            T.H.N
(Đánh vi tính lại vào tháng 2.2008 – ká»· niệm thời còn làm phóng viên)
»  Substance:WordPress   »  Style:Ahren Ahimsa